Phải làm gì khi bé ăn nhiều nhưng vẫn chậm tăng cân?

Loading...

Phải làm gì khi bé ăn nhiều nhưng vẫn chậm tăng cân?T heo chuẩn trung bình sáu tháng đầu đời, mỗi tháng bé tăng khoảng 600-800g, sáu tháng kế tiếp tăng khoảng 500-700g/tháng. Những năm kế tiếp, trung bình tăng 1,5-2kg/năm. Như vậy, cân nặng trung bình của một bé trai khi sinh nhật lần đầu tiên khoảng 10-11kg và bé gái 9,5-10,5kg. Nếu bé có cân nặng dưới mức chuẩn nêu trên hoặc tốc độ tăng cân mỗi tháng thấp hơn trung bình được xem là chậm tăng cân hoặc nhẹ cân. Nếu quá thấp dưới mức trung bình dễ có nguy cơ suy dinh dưỡng.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ chậm tăng cân:

Nhiều bé được chăm sóc dinh dưỡng tốt nhưng vẫn chậm tăng cân, có thể do những nguyên nhân phổ biến:

  • Kém hấp thu các chất dinh dưỡng, lý do cơ địa, hoặc mắc một số bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, tiêu hóa… nhiều lần.
  • Thiếu máu do sinh lý (gặp lúc sau sinh khoảng 4-8 tuần), kém hấp thu chất sắt từ chế độ dinh dưỡng, mắc một số bệnh di truyền gây thiếu máu: thalassemia (thường gặp thể nhẹ, trung bình), thiếu men G6PD, hoặc do nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori và có triệu chứng viêm dạ dày hoặc trào ngược gây nôn sau khi bú (thường gặp ở các bé trên 1-2 tuổi).
  • Nhiễm ký sinh trùng: thường gặp sau 2 tuổi, khi bé bắt đầu tự đi lại một mình và biết nhai thức ăn cứng hơn trước (bé thường bốc những vật xung quanh cho vào miệng hoặc mút tay).

Phải làm gì khi bé ăn nhiều nhưng vẫn chậm tăng cân?

Ngoài ra, cân nặng của bé có thể tăng chậm do những nguyên nhân ít gặp như: tim bẩm sinh (thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch…), suy giáp bẩm sinh, rối loạn chuyển hóa và dung nạp các chất đạm, chất béo, chất đường…

Cách chăm sóc trẻ chậm tăng cân theo khuyến nghị của bác sĩ:

Thông thường các bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ dinh dưỡng sẽ cho các bé điều chỉnh chế độ ăn hiện tại. Cố gắng tăng thêm lượng sữa cho bú, thêm dầu ăn, trái cây, bột ăn ngọt và mặn… nếu bé đang ăn giặm. Bé cũng sẽ được ghi toa cung cấp các sinh tố và dưỡng chất cần thiết như: sinh tố A, D, B1, B6, B12, axit folic, sắt, kẽm, canxi…

Nếu bé trong giai đoạn dưới  6 tháng, năng lượng và dinh dưỡng cung cấp cho bé phụ thuộc chủ yếu vào sữa mẹ hoặc sữa công thức. Trong thời kỳ đang bú mẹ hoàn toàn, và mẹ khỏe mạnh không bị bệnh mãn tính (như ung thư, lao phổi, tim mạch, viêm loét dạ dày nặng…) nhưng bé chậm tăng cân, thì nguyên nhân phần lớn là do bé bị một căn bệnh bẩm sinh nào đó, phụ huynh cần tham vấn bác sĩ nhi khoa tổng quát hoặc nhi khoa chuyên sâu về tim mạch, huyết học, tiêu hóa… nhiều kinh nghiệm do có thể không chỉ đơn thuần là vấn đề dinh dưỡng.

Nếu bé bú mẹ một phần kèm sữa công thức hoặc bú sữa công thức hoàn toàn, nên xem bé có bị dị ứng với sữa bò không (sữa công thức chế biến từ sữa của loài bò). Triệu chứng dị ứng bao gồm mẩn đỏ da mặt, tiêu chảy, nôn ói, quấy khóc… sau khi bú sữa công thức. Cần thay đổi loại sữa công thức sớm. Có thể chuyển sang sữa công thức đặc biệt đã loại bỏ những protein gây dị ứng.

Nếu bé từ 6 tháng tuổi trở lên, có thể ăn dặm thức ăn ngọt (tinh bột và trái cây, rau, củ, quả) và mặn (chế biến từ thịt, cá, hải sản, trứng…). Giai đoạn này dễ phát hiện bé nào bị dị ứng với thức ăn được cung cấp. Triệu chứng tương tự như trên. Cần hạn chế những thức ăn gây dị ứng cho bé. Đối với những bé bị bẩm sinh như thiếu máu tán huyết bẩm sinh, hoặc tim bẩm sinh… thường bị chựng lại về cân nặng trong thời kỳ này. Nên cho bé tầm soát các bệnh lý tiềm ẩn.

  • Thử công thức máu, điện di hemoglobin, định lượng sắt và feritine huyết thanh (để khảo sát bé có bị thiếu máu không, mức độ và nguyên nhân gây thiếu máu). Nếu bé không thiếu sắt mà thiếu máu do bệnh thalassemia, không nên cho bé uống thuốc bổ có chứa chất sắt, vì không những không cải thiện tình trạng thiếu máu và cân nặng mà còn gây tiến triển bệnh nặng hơn.
  • Thử chức năng tuyến giáp (TSH, T3 tự do và T4 tự do) nếu nghi ngờ bé suy giáp (thường vàng da ngay sau sinh, tay chân lạnh, ít vận động).
  • Định lượng men G6PD. Khi mức G6PD huyết thanh thấp hơn bình thường sẽ gây vàng da sau sinh, khi lớn hơn da xanh và dễ bị thiếu máu nặng khi ăn rau dền và củ dền đỏ, đậu ngựa, đậu ván hoặc bôi thuốc xanh methylene nhiều trên da, hoặc uống một số thuốc kháng sinh, hạ sốt chứa paracetamol… Cần lưu ý, rau và củ dền có màu đỏ nhưng không phải là “bổ” máu mà dễ gây hủy máu.
  • Siêu âm tim để xác định nguyên nhân và mức độ khiếm khuyết của cấu trúc tim… Khi bé trên 1 tuổi, có thể nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori hoặc ký sinh trùng (như giun kim, giun đũa, giun lươn…).
  • Xét nghiệm định lượng kháng nguyên vi khuẩn Helicobacter pylori qua phân hoặc thử nghiệm qua hơi thở.
  • Soi phân tìm ký sinh trùng đường ruột. Sau khi tìm ra nguyên nhân bệnh lý gây chậm tăng cân, điều trị sớm và hiệu quả sẽ giúp bé tăng cân trở lại.

Hỏi đáp/ Tư vấn về việc trẻ chậm tăng cân:

Tôi rất băn khoăn vì sao con tôi trộm vía ăn uống tốt mà rất chậm tăng cân, nhìn chung bé tự ăn mà mẹ không phải ép và ăn uống rất nhanh”. Đây là thắc mắc của rất nhiều bậc cha mẹ. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn giúp bạn tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục cho vấn đề này.

Con ăn nhiều, vì sao chậm lên cân ??? Có một số nguyên nhân thường gặp khiến con ăn nhiều mà vẫn không lên cân như:

Bé ăn nhiều nhưng không đúng cách

Trong khi 1g chất bột đường, chất đạm cho 4Kcal thì 1g chất béo cho đến 9Kcal. Đối với trẻ dưới 5 tuổi, loại chất béo tốt nhất cho trẻ là các loại tinh dầu luyện làm từ đậu nành, phộng, mè… cho trực tiếp vào bột/cháo đang nóng của con. Khi trẻ lớn, vẫn có thể sử dụng dầu tinh luyện cho vào thức ăn. Bé trên 6 tháng tuổi nhưng chỉ bú mẹ hoặc uống sữa không ăn thêm thức ăn khác sẽ gây thiếu chất cho bé.

Bé ăn nhiều nhưng chủ yếu là thức ăn vặt hoặc trái cây, thiếu chất béo hoặc tinh bột trong bữa ăn của trẻ cũng khiến con chậm tăng cân. Rau, củ, quả dùng để nấu cháo/bột cho bé sẽ cung cấp ít năng lượng hơn dùng gạo nấu cho bé.

Bé ăn nhiều nhưng kém tiêu hóa, hấp thu

Theo các bác sỹ khuyến cáo, tình trạng này thường xảy ra ở trẻ hay bị rối loạn tiêu hóa do thường xuyên sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh nhiễm trùng (viêm họng, viêm amidan, viêm phế quản…), do chế độ dinh dưỡng không hợp lý,….

Hệ vi khuẩn có lợi cho cơ thể thường trú trong ruột bị kháng sinh tiêu diệt dẫn đến biếng ăn, kém tiêu hóa, kém hấp thu. Việc bổ sung men vi sinh bằng cách cho trẻ ăn sữa chua, hoặc sử dụng các loại thực phẩm chức năng, các dược phẩm có chứa các vi khuẩn có lợi cho đường ruột sẽ giúp bé dễ hấp thu dinh dưỡng để tăng cân tốt hơn.

Bé bị nhiễm giun, sán cũng dẫn đến trẻ ăn nhiều nhưng chậm lớn: Vì bé đã bị các ký sinh trùng đường ruột này chia bớt lượng thức ăn ăn vào. Bố mẹ cần tẩy giun định kỳ cho con 6 tháng/lần.

Nhu cầu tiêu hao năng lượng cho chuyển hóa cơ bản và cho nhu cầu tăng trưởng cao hơn bình thường: Ở một số bé, nhu cầu này của bé cao hơn bình thường, bé sẽ cần nhiều hơn năng lượng nạp vào và có thể vẫn chưa đủ. Vì vậy, bé ăn nhiều nhưng vẫn chậm chậm lên cân.

Biện pháp giúp bé tăng cân và cao lớn

Chế độ dinh dưỡng đúng cách

Điều quan trọng nhất là bố mẹ nên cho con ăn dặm đúng tuổi (từ khi con được 4 – 6 tháng tuổi) Khi bé được 1 tuổi, sữa mẹ không cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng của bé mà cần nhiều hơn thế. Vì vậy, bên cạnh việc cho bé bú sữa mẹ thì cần bổ sung các dinh dưỡng khác theo tiêu chuẩn hợp lý. Khi bé đến tuổi ăn dặm, bạn nên nấu bột/cháo của bé đặc thêm một chút.

Trong các bữa ăn hàng ngày của con, cho trẻ ăn đa dạng các thực phẩm và chú ý trong mỗi bữa ăn đều có đủ 4 nhóm thực phẩm (bột, béo, đạm, rau). Chú ý đến lượng thực phẩm cần dùng cho trẻ trong mỗi bữa ăn. Tăng lượng dầu mỡ trong bữa ăn của bé. Vì dầu mỡ cung cấp năng lượng gấp đôi chất bột và chất đạm. Mỗi chén bột, cháo hoặc cơm của trẻ cần có một muỗng canh dầu hoặc mỡ.

Các món ăn vặt chỉ nên ăn ngay sau bữa ăn chính hoặc bữa phụ xem như bổ sung, không cho trẻ ăn giữa hai bữa ăn sẽ gây hiện tượng ngang dạ. Tăng bữa ăn hàng ngày: Bạn có thể cho bé ăng ngày ăn 5 – 6 bữa thay vì chỉ ăn 3 bữa. Cho bé ăn thêm bữa tối trước khi ngủ.

Cần cho bé uống đủ sữa mỗi ngày cả về lượng và chất

Nhu cầu uống sữa ở mỗi bé là khác nhau nhưng vẫn có một số hướng dẫn chung cho lượng sữa mà bé có thể uống hàng ngày. Chẳng hạn, bé sơ sinh có thể uống 30-90ml sữa sau mỗi vài tiếng đồng hồ. Bé 2 tháng tuổi có thể tăng lên 120-150ml sữa sau mỗi 3-4 tiếng. Tại 4 tháng tuổi, bé có thể uống 120-180ml sữa ở một cữ bú. Với trẻ lớn hơn, nhu cầu sữa sẽ thay đổi khi có nhiều nguồn dinh dưỡng khác bổ sung.

Để bé tăng cân và cao lớn nhanh, ngoài chế độ dinh dưỡng hợp lý hàng ngày, cần phải giúp bé hấp thu hết các dưỡng chất từ thực phẩm. Bạn nên bổ sung các vi khuẩn có lợi (Probiotics) và các chất xơ hòa tan (Prebiotics) từ thực phẩm hoặc thực phẩm chức năng để giúp bé đạt được yêu cầu này.

Men vi sinh là các vi khuẩn có ích đối với cơ thể con người (Probiotics), thường sống trong ruột và đóng một vai trò rất quan trọng ở đuờng tiêu hóa, đặc biệt là hệ tiêu hóa của trẻ. Men vi sinh có nhiệm vụ biến đổi chất xơ thực phẩm, thức ăn chưa tiêu hóa hết ở ruột non thành acid lactic, acetic, butyric, hàng loạt vitamin, axit amin, men, hocmon và các chất dinh duỡng quan trọng khác. Nó cũng sinh ra các khí như NH3, CO2, H2S… Quá trình biến đổi đó gọi chung là quá trình lên men, mà nhờ nó, thức ăn được tiêu hóa hoàn toàn.

Ngoài ra, men vi sinh còn cạnh tranh sống với các vi khuẩn gây bệnh, siêu vi, nấm giúp trẻ lấn át được bệnh tật, kích thích hệ miễn dịch và tăng sức đề kháng cho cơ thể. Khi lượng vi khuẩn có ích tăng lên, thực phẩm sẽ được tiêu hóa và hấp thu hoàn toàn, giúp bé lớn nhanh.

Probiotics – giúp hệ tiêu hóa của bé luôn khỏe mạnh !

+ Bổ sung vi khuẩn có ích làm cân bằng hệ vi khuẩn đường tiêu hóa, hỗ trợ sự phát triển vi khuẩn có ích và ức chế vi khuẩn có hại như E. coli, Salmonella và Listeria để chống tiêu chảy do nhiễm trùng, hạn chế nguy cơ viêm ruột.

+ Hỗ trợ điều trị rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy, táo bón, trướng bụng,) do mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột vì uống nhiều thuốc kháng sinh hoặc vì các nguyên nhân khác.

+ Kích thích hoạt tính men Lactase của cơ thể nhằm cải thiện quá trình tiêu hóa và hấp thu đường Lactose ở những người ít hay không dung nạp đường Lactose.

+ Giúp sản xuất một số vitamin nhóm B (B1, B2, B6, B12), vitamin C, vitamin K trong quá trình lên men.

+ Tăng cường sức đề kháng của ruột do kích thích lên hệ miễn dịch, sản xuất các axit mạnh, vô hiệu hóa các độc tố và chiếm chỗ của các chủng vi khuẩn gây bệnh.

+ Kích thích đáp ứng miễn dịch tại chỗ dẫn đến có lợi cho hệ miễn dịch của cơ thể.

Prebiotics – Phòng chống táo bón & tăng cường hấp thu dưỡng chất

– Tái tạo sự cân bằng của hệ vi khuẩn đường ruột (Chống tại các vi khuẩn gây bệnh): các vi khuẩn hữu ích sống trong đường ruột như Bifidobacteria và Lactobacilli có thể ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh như Escherichia coli, Campylobacter, và Salmonella spp. Nghiên cứu cho thấy thức ăn trẻ sơ sinh có bổ sung Prebiotic làm tăng vi khuẩn Bifidobacteria (có ích) trong phân.

Mặt khác, Prebiotic đóng vai trò như một cái bẫy đối với vi khuẩn gây hại. Nhiều vi khuẩn gây hại có cơ chế sử dụng thụ thể (receptor) Oligosaccharide trong ruột để liên kết với bề mặt niêm mạc ruột và gây nên các bệnh về dạ dày. Các Prebiotic có thể mô phỏng các thụ thể ở ruột và do đó, các vi khuẩn gây hại sẽ liên kết với Prebiotic thay vì niêm mạc ruột.

– Kích thích miễn dịch đường tiêu hóa:

+ Gia tăng hoạt tính của các vi khuẩn chí đường ruột, đặc biệt là dòng Bifido-bacteria.

+ Gia tăng hoạt tính của các đại thực bào và tăng tiết kháng thể tại chỗ IgA.

+ Điều hoà các đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu khác cho cơ thể.

– Phòng chống táo bón: Quá trình lên men cũng sản sinh ra khí hơi và nước có tác dụng làm cho phân mềm và xốp phòng chống táo bón, đồng thời tăng cường khả năng kháng vi khuẩn bằng cách giảm bớt số vi khuẩn nội sinh trong đường ruột qua việc đào thải phân mỗi ngày.

– Tăng cường hấp thu khoáng chất: một số nghiên cứu trên động vật cho thấy Prebiotic giúp tăng hấp thu canxi tại ruột kết (ruột già). Prebiotic là FOS tăng cường hấp thu canxi, magiê, sắt, đồng và kích thích các vi khuẩn thủy phân acid phytic giúp nâng cao sự hấp thụ khoáng chất. Đó là do trong quá trình lên men tại ruột già, các Prebiotics sản sinh ra các axit béo chuỗi ngắn, tạo môi trường axit nhẹ ở ruột già làm tăng hấp thu Canxi và khoáng chất.

– Ngoài ra, Prebiotic còn giúp giảm dị ứng: Phản ứng dị ứng lần đầu tiên trong đời thường biểu hiện dưới hình thức viêm phong da ở trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh đã phát triển viêm phong da thường có nguy cơ cao bị dị ứng sau này. Prebiotics có hiệu quả tích cực làm giảm sự phát triển của viêm phong da ở trẻ sơ sinh.

Chọn sữa giúp con tăng cân tốt, không táo bón?

Bé trai nhà em 29 tháng, nặng 13,5 kg, cao 89 cm, đã đi nhà trẻ. Mỗi ngày đi học về bé uống 2 bình sữa (chiều và tối trước khi đi ngủ), mỗi bình 240 ml. Bữa tối bé ăn ở nhà một bát cơm với đủ 4 nhóm chất. Bé cũng uống nhiều nước, khoảng một lít. Dù vậy, bé vẫn không tăng cân lại thường xuyên bị táo bón, có khi đi ngoài ra máu. Em có nên đổi sữa cho bé hay không và nhờ bác sĩ tư vấn giùm em sữa nào tốt cho bé tăng cân và không bị táo bón? (Mai Chi)

Trả lời

Chào bạn, Muốn bé tăng cân cần có chế độ dinh dưỡng đầy đủ chứ không chỉ dựa vào sữa. So với chuẩn thì bé nhà bạn có cân nặng vừa đủ nhưng chiều cao thì lại thiếu 2,2cm. Vì vậy bạn nên quan tâm đến sự phát triển chiều cao của bé. Với chế độ ăn, bạn đã chăm cho bé đủ 4 nhóm chất nhưng bé vẫn bị táo bón có thể do ăn chưa hợp lý. Nếu chế độ ăn có quá nhiều chất đạm, ít rau xanh và hoa quả tươi, hoặc uống ít nước cũng dễ dẫn đến bị táo bón.

Trước mắt, khẩu phần ăn ngoài chất đạm, béo, bạn nên tăng cường rau xanh như rau mồng tơi, rau đay, rau lang, súp lơ xanh, rau cải, rau muống… có nhiều vitamin, khoáng chất và chất xơ. Hoa quả nên cho bé ăn chuối, đu đủ, dưa hấu, thanh long, đặc biệt có thể cho bé ăn cam hoặc quít (ăn cả tép chứ không nên chỉ uống nước). Tăng cường cho bé uống nước lọc, nước canh…

Riêng về sữa, bạn lưu ý không nên chọn loại sữa cao năng lượng vì càng làm bé táo bón, nên chọn loại sữa dễ tiêu hóa, có nhiều chất xơ được ghi trên thành phần nhãn hộp. Cho bé ăn thêm sữa chua cũng có tác dụng kích thích tiêu hóa tốt. Hàng ngày nên xoa bụng cho bé theo chiều kim đồng hồ lúc đói 2-3 lần, mỗi lần khoảng 5 phút. Tập cho bé đi ngoài hàng ngày vào giờ nhất định để tạo thói quen. Nếu bé không đỡ bạn nên cho bé đi khám dinh dưỡng để điều trị kịp thời.  Thạc sĩ, bác sĩ Doãn Thị Tường Vi – Phòng khám dinh dưỡng, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội


Cập nhật: 02:19 15/10/2017 Theo ...
Loading...

Theo dõi cộng đồng trên facebook